THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Ngày 07/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng – Chuyển giao (BT).

Đồng thời, căn cứ Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 06/12/2025 của Chính phủ quy định về cơ chế quản lý tài chính dự án PPP và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án BT, trong đó có quy định về:

Thời gian tính lãi vay sau thời gian xây dựng (Điều 30);

Thời gian tính lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư (Điều 31);

Thời gian lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư (Điều 24).

Dự án nâng cấp tuyến đường bộ nối hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai, đoạn trên địa phận tỉnh Phú Yên, được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt tại Quyết định số 2275/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 với tổng mức đầu tư 4.662 tỷ đồng. Sau đó, dự án được điều chỉnh thực hiện giai đoạn 1 với tổng mức đầu tư 1.539 tỷ đồng và không triển khai giai đoạn 2.

Giai đoạn 1 của dự án đã hoàn thành, nghiệm thu và bàn giao vào ngày 10/6/2020; hồ sơ quyết toán đã được lập và nộp từ ngày 11/6/2020 nhưng đến nay chưa được phê duyệt do còn vướng mắc trong quá trình thẩm tra.

Tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn làm rõ việc xác định:

Thời gian tính lãi vay sau thời gian xây dựng;

Thời gian tính lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư;

Tôi xin hỏi: Đối với dự án nêu trên, cụ thể có được xác định theo thời hạn 09 tháng (đối với dự án nhóm A) kể từ thời điểm bàn giao công trình hay không? Sau thời hạn này có chấm dứt việc tính lãi vay sau thời gian xây dựng và lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư được Nhà nước thanh toán hay không?

07/10/2026
Trả lời:

Liên quan đến nội dung trên, Bộ Tài chính đã có công văn số 15562/BTC-PTHT ngày 01/10/2026 gửi Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk với nội dung như sau:

1. Liên quan đến triển khai thực hiện Dự án, Bộ Tài chính đã có các văn bản số 4093/BTC-ĐT ngày 06/4/2020, số 3886/BTC-ĐT ngày 14/4/2021, số 3961/BTC-ĐT ngày 16/4/2024 gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk). Tại văn bản số 4093/BTC-ĐT ngày 06/4/2020, Bộ Tài chính đã nêu:việc thanh toán của Dự án phải đảm bảo các điều kiện:

- Dự án phải được đầu tư xây dựng, hoàn thành, bàn giao theo đúng cam kết ghi trong hợp đồng Dự án.

- Điều kiện thanh toán thực hiện theo quy định trong hợp đồng Dự án. UBND tỉnh Phú Yên có thể thanh toán cho Nhà đầu tư một lần hoặc nhiều lần giá trị hợp đồng Dự án phù hợp với kế hoạch vốn được cấp có thẩm quyền giao nhưng thời điểm thanh toán lần đầu được thực hiện sau khi công trình BT hoàn thành, nghiệm thu và bàn giao; giá trị lần thanh toán cuối cùng tối thiểu bằng 15% giá trị Hợp đồng dự án.

- Trường hợp hợp đồng Dự án thanh toán nhiều lần, báo cáo quyết toán hợp đồng Dự án phải được phê duyệt trước lần thanh toán cuối cùng.

2. Về các kiến nghị hướng dẫn của Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk tại văn bản số 4634/SXD-QLXD ngày 15/6/2026:

Theo báo cáo, Dự án được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt tại Quyết định số 2275/QĐ-UBND ngày 30/12/2011; phê duyệt điều chỉnh Dự án triển khai giai đoạn 1 tại Quyết định số 2276/QĐ-UBND ngày 30/11/2018, không triển khai giai đoạn 2 của Dự án tại Quyết định số 1282/QĐ-UBND ngày 23/7/2020. Giai đoạn 1 của Dự án đã thi công, nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng và đưa vào sử dụng (ngày 11/4/2020), bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, quản lý khai thác sử dụng (ngày 10/6/2020).

Đồng thời, Dự án thuộc Phụ lục II[1] (danh mục dự án BT chuyển tiếp của các địa phương) kèm theo Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP ngày 07/4/2026 của Chính phủ quy định về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng - Chuyển giao. Do vậy, việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Dự án cần nghiên cứu các quy định tại Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP và quy định chuyển tiếp của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; cụ thể:

2.1. Về xác định nhóm dự án

Theo quy định của pháp luật về đầu tư công, căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí; việc xác định, phân loại nhóm dự án là một nội dung trong hồ sơ trình và thẩm định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư dự án. Vì vậy, đề nghị Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát hồ sơ Dự án.

Theo quy định chuyển tiếp tại khoản 2 Điều 103 Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025), việc phân loại dự án được áp dụng theo quy định tại Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14, căn cứ tiêu chí về lĩnh vực và quy mô tổng mức đầu tư của Dự án được xác định tại quyết định phê duyệt dự án, quyết định phê duyệt điều chỉnh dự án (nếu có).

Dự án được phê duyệt lần đầu tại Quyết định số 2275/QĐUBND ngày 30/12/2011 và phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 2276/QĐ-UBND ngày 30/11/2018 (vào thời điểm Luật Đầu tư công chưa được ban hành); do đó, việc xác định, phân loại nhóm của Dự án liên quan đến quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng có hiệu lực tại thời điểm phê duyệt dự án và phê duyệt điều chỉnh dự án.

Từ các nội dung nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk căn cứ quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư xây dựng có hiệu lực tại các thời điểm phê duyệt, phê duyệt điều chỉnh Dự án để xác định, phân loại nhóm của Dự án. Trường hợp cần thiết, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk báo cáo UBND tỉnh lấy ý kiến Bộ Xây dựng để thống nhất việc xác định lĩnh vực, tính chất công trình và nhóm dự án theo đúng quy định của pháp luật.

2.2. Về các quy định của Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP, Nghị định số 312/2025/NĐ-CP[2] liên quan đến Dự án

- Tại Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP quy định:

(i)  Đối với dự án BT chuyển tiếp được xác định có nội dung hợp đồng, phụ lục hợp đồng (sau đây gọi chung là hợp đồng dự án) phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết, cơ quan có thẩm quyền tiếp tục thực hiện dự án và thanh toán cho nhà đầu tư theo hợp đồng đã ký kết theo quy định tại khoản 2 Điều này (khoản 1 Điều 4).

(ii) Đối với hợp đồng dự án quy định hình thức thanh toán bằng ngân sách nhà nước được xác định có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền được xem xét, thỏa thuận với nhà đầu tư để sửa đổi, bổ sung hợp đồng và tiếp tục thực hiện thanh toán cho nhà đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị quyết này khi đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này(khoản 1 Điều 5).

Căn cứ các quy định nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk rà soát nội dung hợp đồng dự án, phụ lục hợp đồng để xác định việc ký kết có phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hay không. Trường hợp hợp đồng phù hợp thì tiếp tục thực hiện và thanh toán theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP; trường hợp hợp đồng có nội dung chưa phù hợp do lỗi của cơ quan nhà nước thì xem xét sửa đổi, bổ sung hợp đồng theo Điều 5 Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP. Việc xác định lãi vay, lợi nhuận hợp lý và kiểm toán đối với phần giá trị tăng thêm (nếu có) thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP.

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP quy định xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết: “Nhà đầu tư được thanh toán lãi vay sau thời gian xây dựng và lợi nhuận hợp lý. Lãi suất vốn vay và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo hợp đồng dự án. Các bên được sửa đổi hợp đồng dự án để điều chỉnh lãi suất vốn vay áp dụng sau thời điểm ký kết phụ lục sửa đổi hợp đồng theo quy định hiện hành của Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT”.

Quy định nêu trên đồng bộ, thống nhất với quy định chuyển tiếp tại khoản 4 Điều 44 Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 06/12/2025 của Chính phủ, cụ thể:

“4. Đối với các hợp đồng dự án PPP áp dụng chuyển tiếp theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 10 Luật số 90/2025/QH15 thì các bên được thỏa thuận, sửa đổi, bổ sung hợp đồng dự án PPP theo quy định Luật PPP (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 57/2024/QH15, Luật số 90/2025/QH15), quy định Nghị định này và pháp luật có liên quan có hiệu lực tại thời điểm sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Đối với hợp đồng dự án BT thanh toán bằng ngân sách nhà nước ký kết trước ngày 01/01/2021 có thời gian Nhà nước hoàn thành thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư trên 36 tháng: Cơ quan có thẩm quyền được quyết định việc gia hạn và thanh toán sau thời gian 36 tháng cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư tối đa bằng giá trị quy định tại hợp đồng BT đã ký kết. Đối với phần tăng giá trị nhà nước phải thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư (nếu có) so với giá trị quy định tại hợp đồng đã ký kết không do lỗi của doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc thanh toán giá trị tăng; căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền đề nghị Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán đối với phần tăng giá trị so với hợp đồng đã ký kết để xác định giá trị thanh toán cho doanh nghiệp dự án BT, nhà đầu tư”.

Gửi Độc giả nghiên cứu, tham khảo./.



[1] STT3, mục III, Phụ lục II

[2] Nghị định số 312/2025/NĐ-CP ngày 06/12/2025 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT

Gửi phản hồi: