THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài chính, ngày 24/9/2026, Tôi đã có văn bản gửi Cục Quản lý công sản – Bộ Tài chính và gửi câu hỏi trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ nhưng chưa nhận được phản hồi. Nay, tôi xin phép được hỏi lại và mong Quý Bộ quan tâm, xem xét, giải đáp nguyện vọng chính đáng của người dân.

Tôi có một mảnh đất nông nghiệp diện tích 133 m², nhận chuyển nhượng từ chủ đất có tổng diện tích 1.030 m², trong đó có 200 m² đất ở và 830 m² đất nông nghiệp. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005.

Năm 2011, tôi xây dựng một căn nhà cấp 4 trên mảnh đất này và sinh sống ổn định cho đến nay. Năm 2026, do bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi làm thủ tục xin cấp lại. Trong quá trình giải quyết, cơ quan chức năng hướng dẫn thực hiện hồ sơ kết hợp chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở theo khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai.

Xét thấy thửa đất của tôi có đủ điều kiện để được giảm tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 254/2025/QH15, tôi đã làm đơn đề nghị Thuế cơ sở 6 – Quảng Trị xem xét giảm tiền sử dụng đất theo tinh thần của Nghị quyết này. Tuy nhiên, cơ quan thuế trả lời rằng, do phiếu chuyển thông tin của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực V xác định trường hợp của tôi thuộc khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai nên không được giảm tiền sử dụng đất. Nếu muốn được giảm thì phải xác định trường hợp của tôi theo khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai.

Vì vậy, tôi kính đề nghị Quý Bộ xem xét, giải đáp hai nội dung sau:

  1. Trường hợp sử dụng đất của tôi có được áp dụng chính sách giảm tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 254/2025/QH15 hay không?

  2. Nếu trường hợp của tôi không được áp dụng chính sách giảm tiền sử dụng đất thì căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để xác định? Kính mong Quý Bộ hướng dẫn cụ thể để tôi có căn cứ thực hiện nghĩa vụ tài chính, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh bị thiệt thòi khi nộp tiền sử dụng đất.

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và giải đáp của Quý Bộ!

12/10/2026
Trả lời:

        - Tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai (Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026) quy định:

         “Điều 10. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất

         …2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau đây:

         …c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tính tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất).”

         - Tại Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ đã quy định cụ thể về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15. Đồng thời, Bộ Tài chính đã có Công văn số 7713/BTC-QLCS gửi Thuế các tỉnh, thành phố (tại nơi nhận có Ủy ban nhân dân, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố) hướng dẫn cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng của điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Điều 6 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP về việc tính tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở; theo đó, các trường hợp được áp dụng quy định về mức thu tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bao gồm: (i) đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất; (ii) đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất; (iii) đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng.

         - Theo quy định tại Điều 44, Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025, khoản 21, khoản 22 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026) của Chính phủ thì Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Trị có trách nhiệm: (1) Cơ quan có chức năng quản lý đất đai, văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xác định địa điểm, vị trí, diện tích, loại đất, mục đích sử dụng đất, thời điểm tính tiền sử dụng đất; (2) Cơ quan thuế căn cứ quy định và Phiếu chuyển thông tin do cơ quan có chức năng quản lý đất đai và các cơ quan khác chuyển đến, thực hiện tính tiền sử dụng đất, số tiền sử dụng đất được miễn, giảm và thông báo cho người sử dụng đất.

         Trên đây Bộ Tài chính thông tin về chính sách, chế độ, đề nghị Ông Nguyễn Viết Xuân căn cứ hồ sơ cụ thể, liên hệ với cơ quan chức năng tại địa phương để được xử lý theo đúng quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao.

         Bộ Tài chính trả lời để Ông Nguyễn Viết Xuân được biết./.

 

Gửi phản hồi: