THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính thưa Bộ tài chính, Công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ công nghệ thông tin cho khách hàng doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty có ký kết Hợp đồng cộng tác viên với một số cá nhân để hỗ trợ hoạt động phát triển khách hàng và bán hàng. Nội dung công việc của cộng tác viên bao gồm: • Tìm kiếm, giới thiệu khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của Công ty; • Giới thiệu thông tin sản phẩm, dịch vụ do Công ty cung cấp; • Thương thảo các điều kiện thương mại theo chính sách bán hàng của Công ty; • Theo dõi tiến độ ký kết hợp đồng; • Phối hợp với các bộ phận liên quan trong quá trình giao hàng, triển khai dịch vụ; • Theo dõi, đôn đốc công nợ khách hàng; • Tiếp nhận và phối hợp xử lý các phản ánh của khách hàng. Đối với các cá nhân nêu trên: • Không sở hữu sản phẩm hoặc dịch vụ để bán; • Không đứng tên ký hợp đồng với khách hàng; • Không xuất hóa đơn cho khách hàng; • Không thu tiền từ khách hàng; • Không nhân danh cá nhân để cung cấp phần mềm hoặc dịch vụ phần mềm; • Toàn bộ hợp đồng cung cấp sản phẩm, dịch vụ được ký kết giữa khách hàng và Công ty; • Toàn bộ hóa đơn được phát hành bởi Công ty; • Doanh thu được ghi nhận tại Công ty theo quy định của pháp luật về kế toán và thuế. Căn cứ kết quả bán hàng, Công ty chi trả tiền hoa hồng hoặc thù lao cho cộng tác viên theo tỷ lệ doanh số quy định tại Hợp đồng cộng tác viên. Để thực hiện đúng quy định của pháp luật thuế, Công ty kính đề nghị Quý Cơ quan hướng dẫn đối với trường hợp nêu trên: 1. Khoản tiền hoa hồng/thù lao Công ty chi trả cho cá nhân theo Hợp đồng cộng tác viên có được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công hoặc tiền thù lao theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân hay không? 2. Trường hợp các cá nhân nêu trên chỉ thực hiện công việc hỗ trợ bán hàng cho Công ty, không trực tiếp cung cấp sản phẩm, dịch vụ dưới danh nghĩa cá nhân, không xuất hóa đơn và không phát sinh doanh thu kinh doanh độc lập thì có thuộc đối tượng cá nhân kinh doanh theo quy định của pháp luật thuế hiện hành hay không? 3. Trường hợp nêu trên, Công ty thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với khoản hoa hồng/thù lao chi trả theo quy định áp dụng đối với thu nhập từ tiền công, tiền thù lao có phù hợp với quy định của pháp luật thuế hiện hành hay không? Kính đề nghị Quý Cơ quan xem xét và có ý kiến hướng dẫn để Công ty thực hiện đúng quy định của pháp luật. Xin trân trọng cảm ơn
01/07/2026
Trả lời:

Thuế Thành phố Hà Nội nhận được thư hỏi của NNT Đinh Tú Anh do Cổng Thông tin điện tử - Bộ Tài chính chuyển đến hỏi về chính sách thuế TNCN đối với khoản tiền hoa hồng, thù lao cho cộng tác viên. Thuế Thành phố Hà Nội có ý kiến như sau:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thu nhập chịu thuế TNCN

“Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế

2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công

c) Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác.

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khấu trừ thuế TNCN đối với trường hợp khác:

“i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân....”;

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty chi trả tiền hoa hồng, tiền thù lao cho cộng tác viên không phải là cá nhân kinh doanh thì khi chi trả có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì Công ty phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cộng tác viên.

Trong quá trình thực hiện chính sách thuế, trường hợp còn vướng mắc, có thể tham khảo các văn bản hướng dẫn của Thuế Thành phố Hà Nội được đăng tải trên website http://hanoi.gdt.gov.vn hoặc liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hỗ trợ giải quyết.

Gửi phản hồi: